Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

An ninh nguồn nước ở Việt Nam theo cách tiếp cận của Ngân hàng châu Á

Cập nhật lúc: 20/04/2021 09:29:00 AM

Việt Nam có nguồn tài nguyên nước (TNN) dồi dào nhưng lại phụ thuộc phần lớn vào các nguồn bên ngoài. Chất lượng nguồn nước ngầm và nước mặt được cho là tương đối tốt. Tuy nhiên hiện tượng ô nhiễm cục bộ vẫn còn diễn ra cùng với việc khai thác nguồn nước ngày càng gia tăng, đe dọa đến an ninh nguồn nước (ANNN) quốc gia. Để đánh giá thực trạng ANNN tại Việt Nam, bài phân tích dưới đây lựa chọn cách tiếp cận theo quan điểm phát triển của tổ chức Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Đây là phương pháp có cách tính khá đơn giản, dễ hiểu với các chỉ số thành phần được lượng hóa theo mức điểm quy chuẩn. Đồng thời, các khía cạnh chính để đo lường ANNN quốc gia tổng hợp là hoàn toàn tương thích với điều kiện kinh tế-xã hội cũng như đặc điểm địa lý ở Việt Nam.

Phương pháp của ADB

Trong các báo cáo Triển vọng phát triển TNN châu Á, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) hợp tác với Diễn đàn khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã xây dựng khung lý thuyết về ANNN dựa trên 5 khía cạnh chính là ANNN cấp hộ gia đình, ANNN về mặt kinh tế, ANNN khu vực đô thị, khía cạnh môi trường trong đảm bảo ANNN và khả năng phục hồi đối với các thảm họa liên quan đến nước; từ đó ADB xây dựng nên bộ chỉ số và phương pháp liên quan để tính toán chỉ số ANNN quốc gia. Chỉ số này bao gồm 5 chỉ số thành phần thể hiện 5 khía cạnh. Hình ngũ giác của ANNN quốc gia thể hiện rằng 5 khía cạnh này có liên quan và phụ thuộc lẫn nhau (Hình 1).

Hình 1. Khung phân tích ANNN với 5 khía cạnh phụ thuộc

Nguồn: ADB 2013

Để đơn giản hóa việc đo lường chỉ số ANNN, ADB phân biệt 4 cấp độ chỉ tiêu thứ cấp. Cấp độ cao nhất là chỉ số ANNN quốc gia, chỉ số này được đo lường bằng cách lấy tổng điểm của các khía cạnh chính (key dimension-KD) – tương ứng là chỉ tiêu cấp độ 2. Điểm của các khía cạnh chính này cũng là kết quả từ các tiêu chí cấp độ thấp hơn. Do các tiêu chí khác nhau về đơn vị, việc tính điểm sẽ được chuẩn hóa theo một cách tiếp cận cụ thể.

Như vậy, bộ tiêu chí dùng để tính toán chỉ số ANNN quốc gia theo cách tiếp cận của ADB là khá lớn và yêu cầu thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, vì bộ tiêu chí này phục vụ cho khu vực châu Á và Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, nên phương pháp này hoàn toàn có thể áp dụng và phát triển cho Việt Nam.

Tình hình ANNN ở Việt Nam sử dụng cách tiếp cận của ADB

Năm 2016, ADB thực hiện nghiên cứu ANNN cho các nước châu Á Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. ADB sử dụng cách tiếp cận phát triển của mình để đánh giá ANNN dựa trên 5 khía cạnh chính. Kết quả thu được cho 5 khía cạnh chính mà ADB tính cho Việt Nam được minh họa ở Hình 2 và mỗi khía cạnh được đánh giá với thang điểm 20. Nhìn chung, mức điểm của 5 chỉ số chính của Việt Nam hầu hết đều đạt điểm ở mức trung bình và thấp. So sánh giữa 5 khía cạnh này, điểm ANNN về khía cạnh kinh tế là cao nhất, đạt 12,6/20 điểm. Điều này nghĩa là nguồn nước ở Việt Nam hiện đang vẫn đảm bảo tương đối về nguồn cung nước ổn định phục vụ cho duy trì tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và năng lượng. Hay nói cách khác, lượng nước khai thác phục vụ cho phát triển kinh tế trên tổng nguồn cung nước ở trong mức cho phép.

Trong khi đó, điểm cho ANNN khu vực đô thị chỉ đạt 5/20 điểm, thấp nhất so với 4 khía cạnh còn lại. Điểm số này thấp cho thấy việc quản lý và cung cấp các dịch vụ nước đô thị còn nhiều hạn chế. Chẳng hạn, năm 2015, người dân ở các khu vực đô thị chưa được tiếp cận hoàn toàn đến nguồn nước sạch, tuy nhiên con số này những năm gần đây đã có những cải thiện đáng kể. Bên cạnh đó, việc thu gom nước thải đô thị vẫn còn khiêm tốn và chưa đạt chuẩn, nhất là các đô thị lớn ở Việt Nam. Mặt khác, khả năng thoát lũ ở các đô thị còn yếu nên khi có mưa lớn gây ra lũ lụt trong nội đô, làm thiệt hại về kinh tế cũng như ảnh hưởng đến đời sống của người dân thành thị. Hơn nữa, mưa lớn xuất hiện kéo theo việc thoát nước không kịp dẫn đến các con sông nội thị bị ô nhiễm do nước mưa làm trôi các rác thải xuống dòng sông và ùn ứ trong một thời gian. Đây chính là các yếu tố khiến cho chỉ số ANNN khu vực đô thị tại Việt Nam chỉ đạt 25% so mới mức yêu cầu.

Hình 2. Điểm ANNN của Việt Nam theo 5 khía cạnh

Nguồn: Tổng hợp từ ADB, 2016a.

Theo khung tiêu chí tính toán ANNN mà ADB xây dựng, ANNN quốc gia là tổng hợp chỉ số của 5 khía cạnh chính. Dựa theo số điểm tính toán, Việt Nam được xếp là quốc gia có tình trạng ANNN quốc gia ở mức khiêm tốn (Bảng 1).

Bảng 1. Tình trạng ANNN của Việt Nam

Năm

Điểm số ANNN

ANNN theo thang điểm

Tình trạng ANNN

2013

33,9

1

Hạn chế

2016

40,2

2

Khiêm tốn

Nguồn: Tổng hợp từ ADB, 2016a.

Số liệu ở bảng 1 cho thấy, tình trạng ANNN ở Việt Nam có sự cải thiện trong giai đoạn 2013-2016 khi chuyển từ tình trạng “Hạn chế” sang “Khiêm tốn”. Sự cải thiện này đến từ một số nguyên nhân như: tiếp cận dịch vụ nước cơ bản gia tăng (từ 91,05% năm 2013 lên 93,99% năm 2016), điều kiện vệ sinh được cải thiện, tiếp cận nước sạch đô thị gia tăng… Bên cạnh đó, sự xuất hiện của một số chỉ tiêu mới cũng như thay đổi phương pháp đo lường chỉ tiêu cũng có thể ảnh hưởng đến điểm số tổng hợp ANNN cuối cùng. Tuy nhiên, so với tình trạng chung ở khu vực Đông Nam Á, tình hình ANNN ở Việt Nam luôn ở mức căng thẳng hơn. Chính vì vậy, xét theo cách tiếp cận đo lường chỉ số ANNN của ADB, Việt Nam xếp 39/48 quốc gia châu Á về tình trạng ANNN quốc gia.

Tài liệu tham khảo

ADB, 2013, Asian Water Development Outlook 2013: Measuring water security in Asia and the Pacific, Mandaluyong City, Philippines.
ADB, 2016a, Asian Water Development Outlook 2016: Strengthening Water Security in Asia and the Pacific, Mandaluyong City, Philippines.
https://washdata.org/data/household/dashboard/new.

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Hà Linh
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Số lượt truy cập : 1097202