Tin Kinh tế- xã hội  > Môi trường

Giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước nhằm đối phó với tình hình xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long

Cập nhật lúc: 16/04/2021 01:16:00 PM

Cùng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn (XNM) được đánh giá là một trong những thách thức dài hạn đối với Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và nó có xu hướng trầm trọng hơn trong tương lai. Do vậy, để ứng phó với các tác động tiêu cực từ XNM để đảm bảo an ninh nguồn nước phục vụ cho nông nghiệp và đời sống người dân, cần nghiên cứu và triển khai nhiều giải pháp trong thời gian tới.

Tình hình xâm nhập mặn tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long và một số nguyên nhân

ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất của nước ta, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, nhất là trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên, ĐBSCL lại là vùng đất thấp ven biển, nên hàng năm thường bị tình trạng nước biển xâm nhập sâu vào đất liền. Hiện tượng này xuất hiện theo chu kỳ và thường xảy ra gay gắt trong các tháng mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 5 hàng năm. XNM thường bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố như: Dòng chảy từ thượng nguồn vào ĐBSCL; dòng chảy trên sông, kênh rạch nội đồng; chế độ thủy triều vùng ĐBSCL; biến đổi khí hậu và tác động của con người trong khai thác và sử dụng nước. Chỉ trong 6 năm trở lại đây, ĐBSCL đã trải qua hai đợt XNM kỷ lục, với cường độ gay gắt và khốc liệt ở thời điểm năm 2015/2016 và 2019/2020 dẫn đến tình trạng thiếu nước ngọt xảy ra trên diện rộng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống dân sinh...

Trong mùa khô năm 2020/2021, XNM tại vùng ĐBSCL ở mức cao hơn trung bình nhiều năm, nhưng không nghiêm trọng như mùa khô năm 2019/2020, tuy nhiên, tình hình cũng khá phức tạp. Tính đến cuối tháng 2/2021, tại khu vực ĐBSCL đã xuất hiện 3 đợt XNM tăng cao, ranh mặn 4g/l ở sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây thấp hơn cùng kỳ năm 2020 từ 30-32km; ranh mặn 4g/l ở các cửa sông Cửu Long thấp hơn cùng kỳ năm 2020 từ 5-25km; ranh mặn 4g/l trên sông Cái Lớn thấp hơn cùng kỳ năm 2020 từ 10-13km.

Bảng: So sánh xâm nhập mặn năm 2020 và 2021 tại ĐBSCL

Phân bổ mặn: km

 

Năm 2020

Năm 2021

Sông Vàm Cỏ

100 - 130

65-78

Sông Cái Lớn

55-60

40-47

Sông Hậu

55-60

45-57

 

Nguồn: Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn quốc gia.

Hạn mặn đã khiến nhiều diện tích lúa, cây ăn trái, canh tác thuỷ sản, rau màu bị thiệt hại, cả hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của người dân đều chịu tác động tiêu cực. XNM đã khiến cho nguồn cung cấp nước phục vụ tưới tiêu cho sản xuất lúa, cây ăn trái và cây hoa màu và nuôi trồng thủy sản nước ngọt thiếu hụt trầm trọng, XNM ngày càng tiến sâu hơn vào vùng nội đồng khiến công tác điều tiết nguồn nước cho thủy lợi gặp nhiều khó khăn. XNM kết hợp với việc thiếu nước do ảnh hưởng của mùa hạn mặn 2019/2020 làm cho tổng lượng dòng chảy bị thiếu hụt hơn so với trung bình nhiều năm khiến cho sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ước tính khoảng 40.000ha cây ăn trái (Tiền Giang 19.000ha, Bến Tre 15.000ha, Vĩnh Long 1.800ha, Sóc Trăng 3.400ha) và khoảng 5.000ha lúa của tỉnh Trà Vinh thiếu hụt nước tưới. Ngoài ra, đối với đời sống người dân, hạn mặn cũng đã khiến nhiều hộ gia đình thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng, thậm chí nguồn nước cấp từ các nhà máy nước sạch tại các đô thị trên địa bàn nhiều tỉnh cũng có dấu hiệu nhiễm mặn.

Nguyên nhân chủ yếu gây ra XNM ở ĐBSCL năm 2020/2021 được cho là do thiếu hụt lượng mưa, nguồn nước trên thượng nguồn sông Mê Công trong mùa lũ năm 2020, đỉnh lũ năm 2020 ở đầu nguồn sông Cửu Long trên sông Tiền, sông Hậu (tỉnh An Giang) ở mức thấp (dưới báo động 1), dẫn đến dòng chảy mùa khô 2020-2021 từ thượng nguồn sông Mê Công về ĐBSCL thiếu hụt từ 10-20% so với trung bình nhiều năm. Ngoài ra, tổng lượng dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Công (tại trạm Kratie, Campuchia) về ĐBSCL ở mức thiếu hụt so với trung bình nhiều năm khoảng 5-15%.

Giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước nhằm đối phó với tình hình xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nhằm ứng phó với tình hình XNM, đảm bảo an ninh nguồn nước, các tỉnh ĐBSCL đã sớm chủ động thực hiện nhiều giải pháp nhằm theo dõi chặt chẽ tình hình nguồn nước, chủ động lấy và tích trữ nước; tuyên truyền, hướng dẫn, vận động người dân chủ động các biện pháp tích trữ và tiết kiệm nước; sửa chữa, nâng cấp công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn. Tuy nhiên, trong thời gian tới, cần tiếp tục đẩy manh thực hiện các giải pháp này, cụ thể như sau:

- Luôn chuẩn bị sẵn sàng các giải pháp tình huống để giúp người dân ứng phó với tình trạng hạn mặn khẩn cấp như chuẩn bị phương án huy động các xe bồn lưu động chở nước ngọt cho các hộ dân sống phân tán, vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển, hải đảo; triển khai khoan giếng bổ sung nguồn nước ngọt, kéo dài các đường ống từ các nhà máy nước tập trung ở vùng nước ngọt cấp cho các vùng dân cư bị ảnh hưởng, lắp thêm các vòi nước công cộng để cấp cho các hộ dân bị ảnh hưởng XNM sử dụng; rà soát, nâng cấp, mở rộng, kéo dài tuyến ống đối với các công trình lân cận còn dư công suất để cung cấp nước sạch cho người dân khu vực bị ảnh hưởng. Thường xuyên quan sát mực nước hồ chứa, kiểm tra dung tích đã sử dụng và dung tích còn lại trong hồ để có giải pháp xử lý điều chỉnh nước tưới cho phù hợp với thực tế sản xuất.

- Tập trung điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất, nhất là các tầng chứa nước nằm sâu để phục vụ cấp nước sinh hoạt ở các vùng thường xuyên bị XNM. Lắp đặt hệ thống lọc nước mặn, nước lợ (thiết bị RO) tại các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn thường xuyên bị ảnh hưởng XNM. Xây dựng hồ trữ nước ngọt tại kênh cụt và dẫn dòng cũ, đập tạm ngăn mặn để giữ nguồn nước ngọt cho các trạm cấp nước tập trung nông thôn.

- Đầu tư xây dựng các hệ thống thủy lợi khép kín, thực hiện các dự án đê, kè, đập thủy lợi đầu mối ngăn mặn, trữ ngọt phục vụ sản xuất và dân sinh.

- Thường xuyên nạo vét các tuyến kênh nội đồng, phát dọn khơi thông dòng chảy cho tất cả các hệ thống kênh mương, sửa chữa các hạng mục công trình hư hỏng, tiến hành bảo dưỡng sửa chữa máy móc, thiết bị vận hành, các máy bơm dự phòng để đảm bảo chủ động trong công tác điều tiết phục vụ tưới và bơm nước khi có hạn mặn, vận hành hiệu quả các hồ chứa nước ngọt.

- Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trong cơ chế hợp tác Mekong-Lan Thương (MLC) về khai thác sử dụng nguồn nước. Việc suy giảm dòng chảy ở thượng nguồn sông Mê Kông dẫn tới hạn hán, XNM ở vùng ĐBSCL, do đó việc quản lý tài nguyên nước ở vùng ĐBSCL phải gắn liền với những vấn đề về khai thác, sử dụng nước của 6 quốc gia có chung dòng sông Mê Kông. Thúc đẩy đàm phán để các quốc gia có các hồ chứa thủy điện lớn, kể cả ở dòng chính và dòng nhánh, cùng hợp tác trong việc vận hành phát điện, xả nước xuống hạ du, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông ở mức phù hợp. Bên cạnh đó, cần tăng cường hợp tác với các quốc gia có kinh nghiệm trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, XNM, hạn hán như Hà Lan, Israel, Ôxtrâylia nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các quốc gia, tổ chức quốc tế trong việc ứng phó với hạn mặn nói riêng và biến đổi khí hậu nói chung

- Tuyên truyền rộng rãi, hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, nhất là trong tưới tiêu, sinh hoạt, chống lãng phí nguồn nước. Khuyến khích người dân chủ động trong trường hợp thiếu nước bằng các giải pháp trữ nước.

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2021), Việt Nam đối mặt nguy cơ thiếu hụt nguồn nước trong năm 2021.
  2. Trang web của Tổng cục Thủy lợi.
  3. Trang web của Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn quốc gia
  4. Thái Sơn (2020). Khắc phục tình trạng thiếu nước sinh hoạt do hạn, mặn, Báo Nhân Dân điện tử.
Trích nguồn:NCIF
Tác giả: Vũ Thanh Thảo
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202